Cập nhật: 12/10/2026, trước phiên giao dịch đầu tuần. Các mốc định giá và nhận định lãi suất dưới đây là thông tin CafeF tường thuật từ Maybank, không phải dự báo chắc chắn của PhoWall.
LUẬN ĐIỂM
P/E thấp có thể giảm rủi ro trả giá quá cao, nhưng không tự tạo đáy nếu lãi suất tiền gửi còn cao, thanh khoản cổ phiếu yếu và lợi nhuận doanh nghiệp chưa xác nhận kỳ vọng.
DỮ KIỆN ĐƯỢC CÔNG BỐ
Bài CafeF ngày 12/10 dẫn Maybank nhận định lãi suất trong nước có thể duy trì ở mức cao trong quý IV/2026. Bài viết nêu P/E VN-Index khoảng 12,7 lần trên lợi nhuận 12 tháng gần nhất; nếu loại VIC và các cổ phiếu liên quan, mức này khoảng 10,6 lần. Đây là phép đo theo phương pháp của đơn vị phân tích được dẫn lại, không phải giá trị nội tại của toàn bộ thị trường.
Cùng nguồn cho biết giá trị giao dịch bình quân mỗi ngày trong quý III khoảng 17.000 tỷ đồng, xấp xỉ một nửa cùng kỳ năm trước. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân được mô tả đã tăng trở lại gần vùng 7,5–8% từng thấy trong nửa đầu năm. Các con số là dữ liệu/bình luận được báo chí dẫn từ Maybank; cần đọc phương pháp gốc trước khi so sánh giữa các giai đoạn.
VnEconomy ngày 08/10, dẫn công bố của HNX về thị phần quý III, cho thấy hoạt động môi giới phân hóa; thị phần giao dịch không đồng nghĩa với lợi nhuận hay hiệu quả vốn.
VÌ SAO LÃI SUẤT TÁC ĐỘNG ĐẾN CỔ PHIẾU
Lãi suất cao ảnh hưởng qua ít nhất ba kênh: suất chiết khấu tăng làm giảm giá trị hiện tại của dòng tiền xa; tiền gửi cạnh tranh với cổ phiếu về lợi suất kỳ vọng; chi phí vốn cao có thể làm chậm vay, đầu tư và tiêu dùng.
Không thể suy từ lãi suất tiền gửi bình quân sang chi phí vốn của mọi công ty. Doanh nghiệp có tiền mặt ròng, nợ lãi suất cố định hoặc khả năng chuyển giá khác với doanh nghiệp vay ngắn hạn lớn. P/E 10,6 lần sau khi loại VIC không có nghĩa mọi cổ phiếu còn lại đều rẻ: chất lượng lợi nhuận, nợ và chu kỳ ngành khác nhau.
THỊ TRƯỜNG CÓ THỂ HIỂU NHẦM ĐIỀU GÌ
P/E thấp hơn lịch sử không buộc thị trường phải hồi; P/E có thể thấp vì lợi nhuận đang ở đỉnh chu kỳ, rủi ro lợi nhuận giảm hoặc nhà đầu tư đòi mức bù rủi ro cao hơn. Ngược lại, lãi suất cao cũng không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp cùng suy yếu. Cần đặt định giá cạnh tăng trưởng EPS, dòng tiền hoạt động, đòn bẩy và khả năng trả lãi.
BA KỊCH BẢN THEO DÕI
Cơ sở: lãi suất duy trì cao, thanh khoản chưa phục hồi rõ, lợi nhuận quý III phân hóa; chỉ số có thể dao động nhưng cổ phiếu phân hóa.
Thuận lợi: lãi suất huy động hạ bền vững, kết quả quý III/IV vượt kỳ vọng bằng dòng tiền thật, độ rộng cải thiện và thanh khoản không chỉ tập trung ở vài mã vốn hóa lớn. Đây là bằng chứng tốt hơn cho tái định giá.
Bất lợi: lãi suất giữ cao hoặc tăng thêm, lợi nhuận hụt dự báo, dòng tiền thị trường mỏng; chiết khấu có thể kéo dài ở doanh nghiệp đòn bẩy cao hoặc phụ thuộc vốn bên ngoài.
MỐC XÁC NHẬN
Theo dõi lãi suất tiền gửi theo kỳ hạn, lãi suất liên ngân hàng, tỷ giá, thanh khoản khớp lệnh, độ rộng thị trường và kết quả quý III. Ở cấp doanh nghiệp, đối chiếu lợi nhuận với dòng tiền hoạt động, nợ vay và chi phí lãi vay thay vì chỉ so EPS cùng kỳ.
KẾT LUẬN
P/E thấp hơn bình quân có thể là vùng đệm định giá, chưa phải tín hiệu thời điểm. Luận điểm chỉ mạnh lên khi áp lực lãi suất dịu lại và lợi nhuận được xác nhận bằng tiền. Nội dung là phân tích thông tin, không phải khuyến nghị mua hoặc bán.
Lãi suất cao có thể giữ sức ép lên chứng khoán quý IV: định giá thấp chưa đủ tạo đáy
CafeF dẫn nhận định Maybank rằng mặt bằng lãi suất trong nước có thể duy trì cao suốt quý IV. P/E 12,7 lần là dữ kiện định giá, không phải tín hiệu mua; thanh khoản, lợi nhuận và lãi suất thực mới quyết định khả năng tái định giá.
PhoWall Research · Đăng ngày 12/10/2026